Nhất mệnh, nhì vận, tam phong thủy

Công việc chính của Phong thủy là tìm ra nguồn năng lượng tốt, thu hút và tăng cường các nguồn sinh khí xung quanh chúng ta. Phong thủy được coi là đại diện cho những thuận lợi từ không gian sống xung quanh (Địa lợi), giúp bổ sung cho vận may từ trời (Thiên thời) và vận may ta có từ lúc mới chào đời.

Luận phong thủy theo tuổi

Chọn tuổi bạn cần xem….

Ứng dụng của Lục thập hoa giáp thuần bản mệnh trong cuộc sống: 

  • Làm lịch.
  • Dự đoán số mệnh theo các môn Hà Lạc bát tự, Tử vi đẩu số, Kỳ môn độn giáp, Lục nhâm…
  • Chọn ngày tốt, nhất là chọn ngày có can chi là hỷ thần, dụng thần đối với những người biết tổ hợp tứ trụ của mình.

Giải thích ngũ hành nạp âm của các can chi

Theo tác phẩm Tử vi chân thuyên của Kiều Nguyên Tùng thì ngũ hành nạp âm của can chi được giải thích như sau:

1,2. Giáp Tý – Ất Sửu: Hải Trung Kim (Vàng trong Biển):

Trong đại dương luôn tồn tại một lượng lớn kim loại do tác động cuốn trôi, bào mòn của sông suối, nên kim loại cuốn trôi và tích tụ trong đại dương rất nhiều, đó là nguyên nhân vì sao biển mặn

3,4. Bính Dần – Đinh Mão: Lư Trung Hỏa (Lửa trong Lò):

Theo thần thoại Thái Thượng Lão Quân có một lò luyện đơn sử dụng tam vị chân hỏa rất mạnh mẽ, uy lực. Trong tự nhiên là những lò lửa, lò than mà con người tạo ra

5,6. Mậu Thìn – Kỷ Tỵ: Đại Lâm Mộc (gỗ cây rừng):

Địa lý nước ta và Trung Hoa đều có đồng bằng và rừng núi. Rừng núi chiếm diện tích lớn, các loài gỗ trong rừng là một nguồn tài nguyên quý giá, nên gỗ trong rừng với những đặc điểm, phẩm chất tốt được dùng để đặt tên cho bản mệnh, cốt cách của những người sinh năm này

7,8. Canh Ngọ – Tân Mùi: Lộ Bàng Thổ (đất ven đường):

Đất ven đường là loại đất cứng, có tính bền vững, phục vụ cho cuộc sống nhân sinh. Những người sinh năm Canh Ngọ, Tân Mùi cốt cách họ giống loại vật chất này

9,10. Nhâm Thân – Quý Dậu: Kiếm Phong Kim (Vàng mũi kiếm):

Kim loại được tôi rèn trở thành một dạng vật chất siêu bền, cứng rắn và sắc bén, nên dạng vật chất này được đưa vào ngũ hành nạp âm bản mệnh

11,12. Giáp Tuất – Ất Hợi: Sơn Đầu Hỏa (Lửa ngọn núi):

Ngoài làm nông nghiệp ở đồng bằng, dân vùng núi thường làm nương rẫy, họ dùng lửa đốt sách cây cối, dọn đường cho việc canh tác sau đó. Ngọn lửa này được đặt tên cho bản mệnh của những người sinh năm Giáp Tuất, Ất Dậu

13,14. Bính Tý – Đinh Sửu: Giản Hạ Thủy (Nước chảy xuống):

Nước có đặc trưng là thấm xuống, giản là trạng thái thu gọn như giản ước, tối giản, đơn giản, giản dị nên khi thấm xuống, tiềm ẩn trong lòng đất đó là những mạch nước ngầm

15,16. Mậu Dần – Kỷ Mão: Thành Đầu Thổ (Đất tường thành):

Thành trì là công trinh dùng để cố thú, bảo vệ con người trong tình huống chiến tranh, ngăn kẻ gian, quân giặc, đất của tường thành rất kiên cố, bền vững

17,18. Canh Thìn – Tân Tỵ: Bạch Lạp Kim (Vàng nóng chảy):

Khi sử dụng kim loại người ta phải nhiệt hóa, khiến nó nóng chảy, tách khỏi những tạp chất trong tự nhiên và thu được kim loại nguyên chất, kịm loại nóng chảy là dạng vật chất quá độ như vậy

19,20. Nhâm Ngọ – Quý Mùi: Dương Liễu Mộc (Gỗ cây dương liễu):

Cây dương liễu thân cành mềm yếu được người ta trồng làm cảnh, nó đại diện cho tính uyển chuyển, mềm dẻo

21,22. Giáp Thân – Ất Dậu: (Tuyền Trung Thủy):

Tuyền là dòng suối, nước suối trong rừng rất tinh khiết, sạch sẽ và mát lạnh

23,24. Bính Tuất – Đinh Hợi: Ốc Thượng Thổ (Đất trên mái):

Là dạng vật chất qua nhiệt luyện dùng để lợp nhà, người ta còn gọi nó là ngói

25,26. Mậu Tý – Kỷ Sửu: Tích Lịch Hỏa (Lửa sấm sét):

Hiện tượng hai đám mây mang điện tích trong cơn giông tố tạo ra những tiếng nổ lớn, người xưa với trí tưởng tượng của mình cho rằng Lôi Công – Lôi Mẫu giáng sấm sét trợ uy trời hay trừng phạt kẻ ác

27,28. Canh Dần – Tân Mão: Tùng Bách Mộc (Gỗ tùng bách)

Cây tùng, cây bách là những cây đại thụ, gỗ rất tốt, vinh dự hơn nó được sử dụng để đặt tên cho ngũ hành nạp âm trong 60 hoa giáp

29,30. Nhâm Thìn – Quý Tỵ: Trường Lưu Thủy (Dòng sông lớn):

Dòng sông lớn trong địa lý, có tác dụng đưa nước ra biển cả và chuyên chở phù sa, bồi đắp cho đồng bằng châu thổ

31,32. Giáp Ngọ – Ất Mùi: Sa Trung Kim (Vàng trong cát):

Kim loại trong cát, là dạng các mỏ khoáng kim loại, nó là nguồn nguyên liệu quý giá cho quá trình luyện kim

33,34. Bính Thân – Đinh Dậu: Sơn Hạ Hỏa (Lửa dưới núi):

Ngọn lửa của những người đi làm nương rẫy, họ nấu ăn không về nhà trong các thời điểm mùa vụ, nên họ tìm các con suối dưới chân đồi để lấy nước và chỗ bằng phẳng để nấu ăn. Một số người lữ hành cũng nhóm lửa chân đồi để sưởi ấm và nấu nướng vì ngày xưa, giao thông đi lại khó khắn

35,36. Mậu Tuất – Kỷ Hợi: Bình Địa Mộc (Cây đồng bằng):

Cây lớn ở đồng bằng có đặc điểm thân mềm, mọc nhanh, phát triển mạnh nhưng là dạng gỗ mềm. Một số còn là các dạng cây thân thảo, hoa màu, cây lương thực do người ta trồng

37,38. Canh Tý – Tân Sửu: Bích Thượng Thổ (Đất trên vách):

Tường nhà được xây dựng để bảo vệ con người khỏi mưa gió, trộm cướp, thú dữ, nên đất ở tường vách rất bền vững, kiên cố, nó được xây dựng vì mục đích như vậy. Nạp âm này là dạng vật chất do nhân tạo

39,40. Nhâm Dần – Quý Mão: Kim Bạch Kim (Vàng thành thỏi):

Sau khi chiết tách kim loại khỏi các tạp chất, người ta nung chảy, rồi đổ vào khuôn, có các hình khối khác nhau để sử dụng

41,42. Giáp Thìn – Ất Tỵ: Phúc Đăng Hỏa (Lửa ngọn đèn):

Để thắp sáng về đêm, hay lấy ánh sáng cho trẻ nhỏ học hành nên người ta chế tạo ra đèn, nạp âm này là dạng vật chất nhân tạo được chế tạo và sử dụng với mục đích như vậy

43,44. Bính Ngọ – Đinh Mùi: Thiên Hà Thủy (Nước trên trời):

Nước mưa là hiện tượng địa lý tự nhiên, người xưa cho rằng đó là nước sông Ngân Hà trên thiên đình rót xuống. Dạng vật chất này có những ảnh hưởng và thuộc tính đặc biệt

45,46. Mậu Thân – Kỷ Dậu: Đại Trạch Thổ – Đại Dịch Thổ (Đất cồn lớn):

Cồn bãi, gò đồi được hình thành do tác động nội lực kiến tạo địa chất, một phần do ngoại lực phong hóa, bào mòn nhờ gió, nước nên bồi tụ lại một khu vực tạo thành cồn bãi, gò đồi, cù lao hay đồng bằng châu thổ

47,48. Canh Tuất – Tân Hợi: Thoa Xuyến Kim (Vàng trang sức):

Do nhu cầu hướng tới văn minh, người ta dùng kim loại quý chế tạo thành các đồ trang sức. Nó có giá trị lớn và có thể mang quy đổi, giao thương, mua bán giống như vật chất thay thế tiền tệ

49,50. Nhâm Tý – Quý Sửu: Tang Đố Mộc (Gỗ cây dâu):

Nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa ở những vùng đồng bằng từ xưa rất phát triển, cây dâu là một cây thân thuộc với người dân, nó cũng đi vào thơ ca, văn học từ thời rất lâu rồi.

51,52. Giáp Dần – Ất Mão: Đại Khê Thủy (Nước khe lớn):

Nước suối nhỏ chảy ra suối lớn, Đại Khê Thủy là nước ở suối lớn, nó là chuyển tiếp từ Tuyền Trung Thủy và Trường Lưu Thủy, trong địa lý người ta còn gọi là các phụ lưu, chi lưu, bình lưu trong hệ thống các dòng sống lớn.

53,54. Bính Thìn – Đinh Tỵ: Sa Trung Thổ (Đất trong cát):

Đất lẫn cát là dạng đất ở các bãi bồi ven sông. Quá trinh phong hóa, bào mòn, tạo ra cả những hạt thô và mịn, được dòng nước chuyên chở, bồi đắp thành các bãi bồi, đồng bằng châu thổ.

55,56. Mậu Ngọ – Kỷ Mùi: Thiên Thượng Hỏa (Lửa trên trời):

Vầng Thái dương cung cấp năng lượng ánh sáng, nhiệt độ vô tân cho Trái đất. Đây là dạng vật chất, năng lượng ngoài tự nhiên, nó không cần nguồn sinh và vô tận.

57,58. Canh Thân – Tân Dậu: Thạch Lựu Mộc (Gỗ cây lựu):

Cây Thạch lựu được trồng để ăn trái và làm cảnh, loại cây này có sức sống rất bền bỉ, nó được dùng để đặt tên cho nạp âm trong hoa giáp vì có sự tương đồng về tính chất, cốt cách.l

59,60. Nhâm Tuất – Quý Hợi: Đại Hải Thủy (Nước ở biển lớn):

Nước đại dương bao la, có lượng muối, nó chiến diện tích, thể tích lớn trên trái đất. Cuộc sống con người có ảnh hưởng lớn từ đại dương, hoặc lợi, hoặc hại.